Nón Lá Việt Nam

Hàng thế kỷ qua, trong thơ ca, những tác giả và nhạc sĩ đều đề cập đến nón lá trong những bài thơ, tiểu thuyết và bản nhạc của họ như một cách thể hiện nét đẹp, quyến rũ và cuốn hút của người Việt Nam. Nón lá là một trong những phụ kiện nổi tiếng truyền thống của phụ nữ Việt từ ngàn xưa đến nay. Ngày nay, nón lá trở thành biểu tượng của Việt Nam và được hầu hết khách du lịch biết đến. Đến tận ngày nay, người ta vẫn không biết chính xác nguồn gốc của nón lá, nó vẫn còn là điều bí ẩn và không ai khẳng định chắc chắn được. Tuy nhiên, người ta cho rằng nón lá được khắc họa trên họa tiết trống đồng Ngọc Lữ khoảng 2500-3000 năm về trước. Điều đó cho rằng nón lá đã có mặt và phổ biến trong thời kì này hoặc sớm hơn.

Nhưng có một điều chúng ta có thể nói rằng nón lá xuất phát từ miền thôn quê vì hầu hết người Việt đều sống ở vùng nông thôn và làm nghề nông. Họ phải làm việc trên những cánh đồng, hoặc câu cá trên thuyền, và chèo đò suốt cả ngày dưới cái nắng gay gắt và mưa. Một điều cần được nhắc đến là tổ tiên ta đã tạo nên chiếc nón lá không chỉ vì vẻ đẹp của nó mà còn hữu ích. Nón lá có hình nón và đó là lí do tại sao người ta gọi là nón lá. Đường kính đáy nón là 40cm và cao 20cm. Bên ngoài nón được làm từ lá tre được xếp liền kề liên tục với nhau. Bên trong chiếc nón là 16 vòng tròn tre nhỏ được sắp xếp từ lớn đến nhỏ với khoảng cách đều nhau.
Loại nón lá nổi tiếng nhất là nón bài thơ, người ta gọi đó là chiếc nón bài thơ vì trong nó có những dòng thơ được giấu kín trong từng lớp lá. Những dòng thơ được đặt giữa 2 lớp lá mỏng và chỉ thấy được khi đặt chiếc nón lá dưới ánh mặt trời. Để làm ra một chiếc nón đẹp, nghệ nhân phải tốn rất nhiều công sức.

Đầu tiên, họ chọn những chiếc lá không non nhưng cũng không già có màu trắng xanh, cột chúng thành bó, phơi nắng và dùng bàn ủi để là phẳng. Sau đó, nghệ nhân chẻ tre ra thành những thanh nhỏ, đánh bóng chúng và tạo thành hình tròn. Kế tiếp, họ đặt những thanh tre đã tạo hình lên khung cố định. Tiếp đó, họ phơi những chiếc lá lên chiếc khung ấy, khâu những chiếc lá xung quanh khung tròn bằng chỉ. Cuối cùng, họ tô lên phía ngoài những lớp lá bằng dầu bóng.

Có rất nhiều nơi làm nón lá ở Việt Nam như An Giang, Tây Ninh, Huế, Hà Nội. Việc tham quan làng thủ công và xem qua quá trình làm nón lá, chúng ta sẽ thấy được sự kiên nhẫn và lòng yêu nghề của những người thợ. Hình ảnh chiếc nón lá là tấm lòng của người dân Việt Nam. Bất kì người dân Việt Nam xa quê khi nhìn thấy chiếc nón lá đều nhớ về quê nhà. Nhắc đến nón là, người ta nhớ đến hình ảnh người nông dân làm lụng vất vả đội nón cày cấy trên cánh đồng. Người ta cũng nhớ đến hình ảnh người phụ nữ đội chiếc nón lá sau lưng và cấy lúa. Đôi khi nón lá được người dân dùng như một chiếc quạt hoặc dùng nón thay cho gáo múc nước để rửa mặt.

Nhắc đến nón lá, người ta nhớ về người phụ nữ đội nón lá gánh gạo, rau củ trên con đường làng. Đặc biệt là những cô gái trong chiếc áo dài, nón lá đạp xe đến trường khiến bao chàng trai rung động, và nó đã đi vào trong thơ ca Việt Nam. Điều này khắc họa hình ảnh người mẹ trong chiếc nón lá:

Quê hương là cầu tre nhỏ,
Mẹ về nón lá nghiêng che.

Còn đây là câu thơ miêu tả hình ảnh cô gái trẻ trong chiếc nón lá:

Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón,
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu.

Từ năm 1986, kinh tế Việt Nam dần phát triển. Cuộc sống người dân dần tốt hơn, nên số người đi xe máy và ô tô ngày càng nhiều. Người ta không còn đi bộ hay đi xe đạp quá nhiều, nên nón lá ít xuất hiện hơn ngày trước. Tuy nhiên, ở những khu chợ và những khu vực thành thị, nón lá vẫn phổ biến, đặc biệt nón lá là quà tặng tại nhiều hội nghị quốc tế và điều đó thể hiện tình yêu mến đối với bạn bè quốc tế. Vì sự tiện lợi và dáng vẻ thanh mảnh, nón lá được nhiều người Việt Nam sử dụng trong hàng ngàn năm qua, đặc biệt là phụ nữ. Nón lá sẽ còn sống mãi với con người đất Việt.