Nhạc sĩ Bảo Thu, một cái tên không còn xa lạ với những người yêu mến dòng nhạc vàng trữ tình, là tác giả của những ca khúc đi vào lòng người như “Giọng Ca Dĩ Vãng”, “Nếu Xuân Này Vắng Anh”, “Cho Tôi Được Một Lần…”. Nhưng ít ai biết rằng, trước khi trở thành một nhạc sĩ tài hoa, ông đã từng là một ảo thuật gia chuyên nghiệp, thậm chí được mệnh danh là “Thần đồng ảo thuật Việt Nam”. Cuộc đời và sự nghiệp của Bảo Thu là một bản giao hưởng đa thanh độc đáo, nơi âm nhạc và ảo thuật hòa quyện, tạo nên một chân dung nghệ sĩ đa tài và đầy màu sắc.

Nguyễn Trung Khuyến, đó là tên thật của nhạc sĩ Bảo Thu, sinh năm 1944 tại Sài Gòn, trong một gia đình có truyền thống tri thức và hoạt động xã hội. Ông nội ông, Nguyễn Văn Hậu (hiệu Thuần Đức, còn gọi là Nguyễn Trung Hậu), là một nhà giáo uyên bác, một nhà báo tâm huyết, đồng thời là một chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài với phẩm Bảo pháp. Cha ông, nhà báo Nguyễn Trung Ngôn (bút danh Tam Đức, thi sĩ Trực Thần), cũng là một nhân vật có tiếng trong giới báo chí và văn chương, đồng thời giữ phẩm Hiền tài trong đạo Cao Đài. Chính môi trường gia đình đậm chất văn hóa và nghệ thuật này đã ươm mầm cho những tài năng tiềm ẩn của Bảo Thu.
Từ năm 8 tuổi, cậu bé Khuyến đã được làm quen với cây đàn mandoline dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Văn Thủy. Tuy nhiên, do còn nhỏ tuổi, việc học đàn gây đau tay, cộng thêm sự tập trung vào việc học văn hóa, nên cậu đã tạm gác lại đam mê âm nhạc. Bước ngoặt đến với bộ môn ảo thuật trong một lần tình cờ trên đường đi học về. Bảo Thu kể lại rằng, ông đã bị thu hút bởi một đám Sơn Đông mãi võ, đặc biệt là màn trình diễn của một người bán thuốc. Ông ta đặt một con rối gỗ hình ông tướng xuống đất và ra lệnh cho nó nhảy múa, điều kỳ diệu là con rối đã cử động theo đúng ý người điều khiển.

Ấn tượng sâu sắc và tò mò trước màn trình diễn kỳ lạ đó, Bảo Thu đã về nhà hỏi ông nội. Được ông giải thích về những bí mật đằng sau trò ảo thuật, cậu bé Nguyễn Trung Khuyến đã cảm thấy vô cùng thích thú và bắt đầu tìm hiểu về những mánh khóe của bộ môn này. Niềm đam mê ảo thuật cứ thế lớn dần trong cậu. Vào thời điểm đó, ảo thuật còn là một lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam, nên ông nội của Bảo Thu, một người thầy giáo dạy tiếng Pháp và cũng là nhà báo, nhà văn, đã tìm kiếm những quyển sách tiếng Pháp về ảo thuật cho cháu trai đọc. Nhờ vốn tiếng Pháp có được từ những năm học tiểu học tại trường Pháp, Bảo Thu đã tự mày mò nghiên cứu và luyện tập, để rồi trở thành một ảo thuật gia tài năng khi chỉ mới 14, 15 tuổi. Năm 1960 đánh dấu bước ngoặt lớn trong sự nghiệp ảo thuật của ông khi lần đầu tiên biểu diễn trước công chúng tại đoàn Kim Cương. Màn trình diễn của ông đã ngay lập tức nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt từ khán giả và giới báo chí Sài Gòn, giúp ông được vinh danh là “thần đồng ảo thuật”.
Nhạc sĩ Bảo Thu nhớ lại, những tiết mục ảo thuật ban đầu của ông chỉ là những màn trình diễn đơn giản. Tuy nhiên, sự mới lạ của bộ môn này ở Sài Gòn lúc bấy giờ đã đủ sức chinh phục khán giả. Các ông bầu liên tục mời ông biểu diễn, và cái tên “ảo thuật gia Nguyễn Khuyến” trở thành một hiện tượng, xuất hiện trên khắp các pano quảng cáo. Cùng thời điểm đó, một ảo thuật gia tu nghiệp từ Pháp trở về đã mở lớp dạy ảo thuật và thôi miên. Bảo Thu đã không ngần ngại đăng ký theo học, đây chính là bước đệm quan trọng đưa ông chính thức bước chân vào con đường ảo thuật chuyên nghiệp. Sau này, Bảo Thu có cơ hội biểu diễn ảo thuật trong các chương trình của bầu Lâm Tuyền, nơi ông gặp gỡ và làm việc cùng những nhạc sĩ tài danh như Nguyễn Ánh 9, Duy Khiêm, Phùng Trọng… Nhận thấy Bảo Thu có năng khiếu đặc biệt với âm nhạc, nhạc sư Lâm Tuyền đã yêu mến và nhận dạy nhạc miễn phí cho ông, đồng thời còn tặng ông một cây đàn guitar. Trong khoảng thời gian này, Bảo Thu đã miệt mài học hỏi và sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ khác nhau như trống, guitar… Đặc biệt, ông còn được thọ giáo ngón đàn guitar điêu luyện từ giáo sư – nhạc sĩ Hoàng Bửu, một bậc thầy về guitar flamenco.

Năm 1964, ở tuổi 20, nhạc sĩ Bảo Thu chính thức bước chân vào lĩnh vực sáng tác âm nhạc. Trong những buổi biểu diễn chung, ông có dịp quen biết với những ông bầu sô nổi tiếng như Nguyễn Đức và Tùng Lâm. Những lúc rảnh rỗi, Bảo Thu thường giúp nhạc sĩ Nguyễn Đức dạy nhạc lý và luyện tập cho các ca sĩ trẻ. Trong số những học trò của Nguyễn Đức có một nữ ca sĩ trẻ xinh đẹp tên là Phương Hoài Tâm. Một ngày nọ, Phương Hoài Tâm tình cờ đưa cho Bảo Thu một bài thơ, bài thơ đã khơi nguồn cảm hứng trong ông, thôi thúc ông phổ nhạc và viết nên ca khúc đầu tay mang tên “Ước Vọng Tương Phùng”.
Sau khi hoàn thành ca khúc này, Bảo Thu vẫn chưa nghĩ đến việc sẽ theo đuổi con đường sáng tác chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ông vẫn gửi bài hát lên đài phát thanh quân đội (nơi ông đang tham gia biểu diễn ảo thuật trong một ban nhạc), với hy vọng một ngày nào đó ca khúc sẽ được thu âm. Bất ngờ thay, một thời gian sau, “Ước Vọng Tương Phùng” đã được đài phát thanh trao giải khuyến khích dành cho các sáng tác mới. Giải thưởng này, dù chỉ là một sự khởi đầu nghiệp dư, đã mang đến cho Bảo Thu một nguồn động lực lớn để tiếp tục sáng tác. Trong giai đoạn này, Bảo Thu thường xuyên biểu diễn ảo thuật chung chương trình với ban nhạc Blue Stars, một ban nhạc trẻ với những nữ ca sĩ chỉ mới 15, 16 tuổi, trong đó có ca sĩ Xuân Thu. Ông thường đến nhà Xuân Thu chơi và luyện tập hát cho cô. Qua những lần gặp gỡ và tiếp xúc thường xuyên, ông đã phổ nhạc cho bài thơ của mẹ Xuân Thu mang tên “Cánh Thư Chiến Tuyến”, một bài thơ có nội dung như một lời hồi đáp cho ca khúc “Ước Vọng Tương Phùng”. Đến thời điểm này, Bảo Thu vẫn sáng tác nhạc dưới bút danh là tên thật Nguyễn Trung Khuyến. Mẹ của Xuân Thu đã gợi ý ông lấy bút danh Bảo Thu, bởi thời gian đó ông thường xuyên lui tới nhà Xuân Thu và cũng quen biết với hai cô nữ sinh ở Đà Lạt tên là Bích Bảo và Thanh Thu.

Ca khúc thứ ba của nhạc sĩ Bảo Thu mang tên “Một Lời Cho Em”, được viết chung với nhạc sĩ Mặc Thế Nhân, nhưng không gây được tiếng vang lớn. Đến ca khúc thứ tư, “Đừng Hỏi Vì Sao Tôi Buồn”, được danh ca Lệ Thu thể hiện đầu tiên, mới mang lại chút danh tiếng cho ông. Ca khúc thứ năm của ông là “Tôi Thương Tiếng Hát Học Trò”, cũng là một sáng tác chung với Mặc Thế Nhân. Thời điểm đó, ca sĩ Phương Hoài Tâm được mệnh danh là “Tiếng Hát Học Trò”, nên nhiều người cho rằng Bảo Thu đã viết ca khúc này từ những cảm xúc dành cho cô ca sĩ khả ái này.
Ca khúc tiếp theo đã trở thành một dấu son chói lọi trong sự nghiệp của Bảo Thu, mang đến cho ông thành công cả về mặt danh tiếng lẫn tài chính, và có thể xem là ca khúc nổi tiếng nhất của ông: “Giọng Ca Dĩ Vãng”. Nhạc sĩ Bảo Thu tiết lộ rằng, trong vòng 10 năm, đã có khoảng 1 triệu bản nhạc tờ của ca khúc này được xuất bản, trở thành một hiện tượng của nhạc vàng vào cuối thập niên 1960.
Trong một buổi trò chuyện trên Jimmy Show, nhạc sĩ Bảo Thu đã chia sẻ rằng bài hát “Giọng Ca Dĩ Vãng” được ông viết dành cho người ca sĩ mà ông yêu mến, người đã khơi nguồn cảm hứng để ông bước vào lĩnh vực sáng tác và cũng là người đã gợi ý ông sáng tác ca khúc đầu tay “Ước Vọng Tương Phùng”. Dù ca khúc đầu tay không thành công như mong đợi, nhưng nó đã đặt nền móng cho sự nghiệp sáng tác rực rỡ sau này của ông. Nhờ thành công của “Giọng Ca Dĩ Vãng”, nhạc sĩ Bảo Thu đã có đủ điều kiện tài chính để mua sắm thiết bị và mở một phòng thu âm riêng. Trên báo CATP năm 2008, nhạc sĩ Bảo Thu đã kể lại câu chuyện tình yêu ẩn sau ca khúc “Giọng Ca Dĩ Vãng”: “Dạo ấy, P.H.T sinh hoạt trong ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức, tôi dạy ảo thuật nhưng thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc lý, nên tôi và T. quen nhau. Sau đó tôi mở lớp nhạc tại nhà riêng trên đường Trần Hưng Đạo, trong thời gian này tôi thường đến nhà T. dạy hát và giới thiệu T. diễn ở một số phòng trà tại Sài Gòn. Khi T. đã có tên tuổi trong làng nhạc thì chúng tôi nảy sinh tình cảm. Trớ trêu thay, T. báo tôi biết là gia đình đã đính hôn cho cô từ lâu rồi! Cả hai chia tay. Trong nỗi tuyệt vọng và nhớ thương hình bóng người xưa, tôi đã sáng tác Giọng Ca Dĩ Vãng, tái hiện hình ảnh ‘anh đàn em hát’ ngày nào nay đã trở thành dĩ vãng nhạt nhòa”.

Ca khúc tiếp theo của nhạc sĩ Bảo Thu được nhiều người biết đến là “Thương Ca Mùa Hạ”, một sáng tác hợp soạn cùng nhạc sĩ Thanh Sơn – một nhạc sĩ nổi tiếng với những ca khúc viết về mùa hè và tuổi học trò. Sau thành công vang dội của “Giọng Ca Dĩ Vãng”, nhạc sĩ Bảo Thu đã được Hãng Dĩa Việt Nam của bà Sáu Liên ký hợp đồng độc quyền với nghệ danh Bảo Thu. Đây cũng là thời điểm ông gặt hái thành công với hai ca khúc “Nếu Xuân Này Vắng Anh” và “Cho Tôi Được Một Lần”, được Hãng Dĩa Việt Nam thu âm vào khoảng năm 1967-1968.
Cùng thời gian này, một số hãng thu âm khác cũng muốn có được những sáng tác của ông. Tuy nhiên, do đã ký hợp đồng độc quyền với Hãng Dĩa Việt Nam dưới nghệ danh Bảo Thu, nên sau khi tham khảo ý kiến của hãng, ông đã được đồng ý sáng tác một số ca khúc khác dưới bút danh Trần Anh Mai, như “Xuân Trong Rừng Thẳm”, “Lính Và Tình Yêu”… để bán cho các hãng thu âm khác. Bút danh Trần Anh Mai được viết tắt thành T.A.M, gợi nhớ đến chữ “Tâm”, một cái tên có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời ông, gắn liền với những người phụ nữ quan trọng như ca sĩ Phương Hoài Tâm và ca sĩ Thanh Tâm (người vợ sau này của Bảo Thu). Ngoài vai trò là nhạc sĩ và ảo thuật gia, Bảo Thu còn được mời phụ trách chương trình “Tiếng ‘K’ Thời Đại” vào năm 1966. Đây là chương trình ca vũ nhạc, ảo thuật xiếc, độc tấu đầu tiên của Đài truyền hình Việt Nam. Sau đó, chương trình này đã đổi tên thành “Tiếng hát 20”, rồi “Chương trình Bảo Thu”. Ông còn được mệnh danh là “Ông hoàng bồ câu” với những tiết mục ảo thuật độc đáo cùng chim bồ câu, được thu hình và phát sóng nhiều lần trên truyền hình vào thời bấy giờ.
Năm 1969, Bảo Thu vinh dự được tổ chức International Brotherhood of Magicians IBM (Kenton Chio – USA) chính thức công nhận là Ảo thuật gia Quốc tế. Năm 1971, ông thực hiện chuyến lưu diễn qua nhiều nước châu Âu như Pháp, Ý, Bỉ… Trong thời gian này, ông đã dừng chân tại Hà Lan để học thêm về múa và kịch nói, cho thấy sự ham học hỏi và mong muốn làm giàu thêm vốn kiến thức nghệ thuật của mình.
Nhạc sĩ Bảo Thu kết hôn vào năm 1973 với nữ ca sĩ xinh đẹp Thanh Tâm. Thời điểm đó, ca sĩ Thanh Tuyền vừa lập gia đình và tạm dừng sự nghiệp ca hát, nên ca sĩ Chế Linh đã chọn Thanh Tâm để song ca, thay thế cho sự kết hợp nổi tiếng Chế Linh – Thanh Tuyền trước đó. Trong những buổi luyện tập cho đôi song ca Chế Linh – Thanh Tâm, nhạc sĩ Bảo Thu đã nảy sinh tình cảm với nữ ca sĩ trẻ tuổi (mới 18-19 tuổi). Họ đã tổ chức đám cưới khi Thanh Tâm vừa mới bắt đầu tạo dựng được tên tuổi trong làng nhạc. Tuy nhiên, sau đó Thanh Tâm ít đi hát hơn và gần như ngừng hẳn để toàn tâm lo cho gia đình. Vợ chồng nhạc sĩ Bảo Thu – ca sĩ Thanh Tâm đã chung sống hạnh phúc bên nhau trong gần 50 năm qua, một minh chứng cho tình yêu bền đẹp và sự gắn bó sâu sắc.

Sau năm 1975, Bảo Thu tiếp tục được chính quyền mới mời phụ trách Chương trình Bảo Thu, một chương trình ca vũ nhạc ảo thuật xiếc được biểu diễn tại các rạp ở Sài Gòn. Năm 1978, Chương trình Bảo Thu kết hợp với Đoàn xiếc Độc lập thành đoàn Hương Miền Nam, chuyên biểu diễn tạp kỹ ca nhạc ảo thuật xiếc cho đến năm 1979.
Hiện nay, nhạc sĩ Bảo Thu sống cùng gia đình tại Sài Gòn. Ông vẫn tích cực tham gia vào các hoạt động nghệ thuật, làm giám khảo cho các hội thi ảo thuật, đạo diễn, dàn dựng và biên tập các chương trình tạp kỹ, đồng thời thực hiện các dự án quảng cáo cho các cơ sở thương mại. Bên cạnh đó, ông còn mở phòng trà “Bảo Thu Bolero Và Nàng”, một không gian ấm cúng để những người yêu mến giọng ca và những sáng tác của ông có thể tìm đến và thưởng thức. Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Bảo Thu là một minh chứng sống động cho sự đam mê, tài năng và những đóng góp không ngừng nghỉ cho nền nghệ thuật Việt Nam, một người nghệ sĩ đã chinh phục khán giả bằng cả trái tim âm nhạc lẫn những màn ảo thuật đầy mê hoặc.
-Lee Quang Minh-
